
Hội thi "Rung chuông vàng" tìm hiểu kiến thức SKSS-KHHGĐ tại trường Cao đẳng Bắc Kạn năm 2020. Ảnh: T.H
Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, bước vào xây dựng miền Bắc XHCN, Đảng và Nhà nước đã sớm có chủ trương khởi động cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình. Năm 1961, Hội đồng Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định 216/CP về việc “sinh đẻ có hướng dẫn”, thực hiện mô hình “Mỗi cặp vợ chồng có 2 con” với mục tiêu giảm sinh trong bối cảnh kinh tế hết sức khó khăn, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đang ở mức rất cao.
Tuy nhiên, Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trong một thời gian dài chưa đạt được kết quả mong muốn. Ngày 14/01/1993, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã ban hành nghị quyết nghị quyết đầu tiên của ban Chấp hành trung ương về công tác dân số, đó là Nghị quyết số 04-NQ/HNTW về Chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình. Thực hiện nghị quyết này, sau 12 năm - năm 2005, Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế, sớm hơn 10 năm so vớimục tiêu kế hoạch đề ra.
Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam thành công đã đóng góp quan trọng cho sự phát của mỗi gia đình và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tuy nhiên vẫn có nhiều vấn đề dân số cần được quan tâm giải quyết, như: Mất cân bằng giới tính khi sinh, già hóa dân số, chất lượng dân số chưa cao.
Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới, xác định: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững.”
Thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Chương trình hành động số 13-CTr/TU ngày 22/01/2018 thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW và Ủy ban nhân dân tỉnh cóQuyết định số 723/QĐ-UBND ngày 09/5/2018 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 13-CTr/TU.

Mội buổi nói chuyện chuyên đề về sức khỏe sinh sản - KHHGĐ với học sinh THPT Na Rì. Ảnh: T.H
Hiện nay, công tác dân số ở tỉnh Bắc Kạn đang phải đối đầu với nhiều khó khăn thách thức: Bắc Kạn xếp trong nhóm các tỉnh có mức sinh cao; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao, tăng dần qua các năm gần đây;tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh ở mức rất cao (năm 2020 ở mức 112,1 bé trai /100 bé gái); tốc độ già hóa dân số nhanh;thuộc nhóm các tỉnh cóchất lượng dân số thấp nhất cả nước.
Trong khi đó, tổ chức bộ máy chuyên trách làm công tác dân số trên địa bàn những năm gần đây có sự thay đổi liên tục, chưa ổn định, nhất là ở cơ sở; nguồn lực đầu tư cho công tác dân số còn rất hạn chế; nhận thức của một bộ phận người dân, ngay cả một số cán bộ, đảng viên về công tác dân số chưa đúng;dịch Covid-19diễn biến phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông dân số.
Để đạt được các chỉ tiêu Chương trình hành động số 13-CTr/TU ngày 22/01/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, thời gian tới, Sở Y tế cần tham mưu tích cực cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh các nội dung sau:
Một là, kiện toàn, ổn định tổ chức bộ máy chuyên trách và đào tạo chuyên ngành dân số. Thành lập Ban chỉ đạo công tác Dân số và Phát triển ở các cấp theo các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Y tế. Sớm ổn định tổ chức bộ máy chuyên trách làm công tác dân số ở cơ sở theo hướng: Kiện toàn phòng Dân số - Truyền thông giáo dục sức khỏe thuộc Trung tâm Y tế tuyến huyện theo thông tư của Bộ Y tế; mỗi Trạm Y tế cử một viên chức thực hiện công tác dân số cấp xã, hướng tới có viên chức ngạch dân số viên để thực hiện nhiệm vụ đúng chuyên ngành, hiệu quả. Kiện toàn đội ngũ cộng tác viên dân số thôn, tiểu khu/tổ dân phố theo đúng quy định tại Thông tư số 02/2021/TT-BYT của Bộ Y tế quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ của cộng tác viên dân số.
Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về dân số. Tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về dân số ở địa phương trên cơ sở thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án về dân số theo Nghị quyết 137/NQ/CP của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyếtsố 21-NQ/TW. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban nghị quyết về chính sách dân số trên địa bàn.
Ba là, bảo đảm đủ kinh phí cho công tác dân số theo quan điểm của Nghị quyết số 21-NQ/TW: “Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số”. Kinh phí cho công tác dân số cần được bố trí tách riêng với kinh phí cho hoạt động Y tế. Chính quyền cấp huyện, cấp xã phải có trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác dân số ở địa phương theo các quyết định phê duyệt kế hoạch thực hiện chương trình, đề án dân số đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành./.
Lèng Hoàng Thái Huân
Chi cục trưởng Chi cục Dân số - KHHGĐ