* Chăm sóc trẻ từ trong bụng mẹ:
Từ khi có thai đến lúc đẻ là phải có chế độ ăn đặc biệt để có tăng cân trung bình từ 10 – 12 Kg ( trong đó 7 Kg sử dụng cho thai phát triển và 5 Kg dự trữ cho sự tiết sữa).
Bà mẹ cần đi khám thai và theo dõi cân nặng từng quý để bổ sung thức ăn kịp thời tránh cho trẻ khỏi bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai.
Bà mẹ cần ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, năng lượng và nghỉ ngời hợp lý khi bà mẹ có thai cần ăn thức ăn giàu đạm, và tăng thêm khoảng 370 kilo Calo trong một ngày (khoảng một bát cơm đầy).
Khi cho con bú bà mẹ cần tăng thêm khoảng 550 kilo Calo trong một ngày (khoảng một bát rưỡi cơm đầy) để tăng cường cho sự tạo xương.
* Giáo dục nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung:
* Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ:
- Cho trẻ bú sớm ngay sau đẻ (trước 30 phút) để trẻ nhận được nhiều kháng thể và vitamin A giúp trẻ mau lớn và tăng sức đề kháng.
- Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, trẻ không cần ăn thêm bất cứ thức ăn nào khác kể cả nước.Trẻ được bú theo nhu cầu, bú cả ngày lẫn đêm.
- Bú mẹ kéo dài 18 – 24 tháng.
- Cho trẻ bú theo nhu cầu của trẻ tức là không hạn chế thời gian và độ dài của mỗi bữa bú.
- Nếu trẻ ốm không bú được thì vắt sữa và cho trẻ ăn bằng thìa hoặc bằng cốc.
* Ăn bổ sung hợp lý theo ô vuông thức ăn:
* Cho trẻ ăn bổ sung đúng độ tuổi ( bắt đầu từ tháng thứ 7) không quá sớm không quá muộn)
* Cho trẻ ăn từ lỏng đến đặc, từ ít đến nhiều, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới.
* Số lượng thức ăn và bữa tăng dần theo tuổi chú ý đảm bảo số lần ăn trong ngày để đủ nhu cầu dinh dưỡng.
* Thực hiện “tô màu bát bột” sử dụng các thức ăn hỗn hợp,giàu dinh dưỡng và sẵn có tại địa phương. Chú ý đổi bữa và thức ăn hợp khẩu vị của trẻ , chế biến đảm bảo thức ăn dễ nhai và dễ nuốt.
* Thức ăn bổ sung cần có đậm độ năng lượng và độ keo đặc thích hợp.
- Trẻ 7 tháng tuổi: Vẫn bú mẹ là chính + 1 bữa bột loãng + nước hoa quả, sau tăng dần lên 2 bữa bột mỗi ngày và đặc dần.
- Trẻ từ 8 tháng đến 12 tháng : Vẫn cho bú mẹ là chính + 3 – 4 bữa bột đặc mỗi ngày + quả nghiền. Điều quan trọng là bà mẹ phải làm cho bát bột của trẻ có đủ cả 4 nhóm thức ăn: ngoài gạo ra còn có trứng hoặc thịt hoặc tôm, cá, rau và nhất là dầu hoặc mỡ. Thức ăn bổ sung cần có đủ và cân đối các chất dinh dưỡng.
- Khi trẻ ăn bổ xung vẫn tiếp tục bú mẹ càng nhiều càng tốt.
- Trẻ từ 12 – 24 tháng tuổi ngoài sữa mẹ cho trẻ ăn thêm 4 – 5 bữa/ ngày có thể nấu theo kiểu cháo hỗn hợp gồm nhiều loại thực phẩm của cả 4 nhóm thức ăn: Như gạo, thịt, hoặc đậu, rau, dầu hoặc mỡ và chia đều cho trẻ ăn trong ngày.
- Tre từ 24 – 36 tháng lúc này trẻ có thể ăn tất cả các thức ăn của người lơn, nhưng cần phải nấu nhừ, dễ nhai và dễ tiêu hoá.

* Tiêm trủng đầy đủ và kiểm soát các bệnh nhiễm khuẩn:
- Thực hiện tiêm chủng theo lịch trong chương trình tiêm chủng mở rộng.
- Điều trị sớm các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt phòng chống tiêu chảy và viêm đường hô hấp cấp.
- Tăng cường vệ sinh môi trường phòng chống giun sán.
* Vệ sinh khi nấu nướng:
- Chọn thực phẩm sạch. Vệ sinh dụng cụ nấu nướng.
- Rửa tay trước khi chế biến thức ăn và cho trẻ ăn.
* Theo dõi cân nặng:
Để phát hiện sớm suy dinh dưỡng cần theo dõi cân nặng của trẻ vì cân nặng là biến số thay đổi sớm nhất khi tình trạng dinh dưỡng của trẻ bị thay đổi:
- Trẻ < 2tuổi bình thường 3 tháng cân 1 lần.
- Trẻ bị suy dinh dưỡng 1 tháng cân 1 lần
Sau khi cân bà mẹ cần sử dụng biểu đồ tăng trưởng để theo dõi sự phát triển của trẻ: Nếu cân nặng không tăng hoặc giảm xuống là báo hiệu suy dinh dưỡng, trẻ cần được khám bệnh và tư vấn dinh dưỡng.
Việc theo dõi cân nặng là biện pháp đơn giản mà người mẹ có thể tự làm được và biểu đồ phát triển sẽ giúp cho họ đánh giá đúng tình trạng sức khoẻ của con mình .
- Cân nặng của trẻ nằm trong kênh A là trẻ phát triển bình thường.
- Cân nặng của trẻ nằm trong kênh B là trẻ bị suy dinh dưỡng nhẹ .
- Cân nặng của trẻ nằm trong kênh C là suy dinh dưỡng vừa.
- Cân nặng của trẻ nằm trong kênh D là suy dinh dưỡng nặng.
* Sinh đẻ có kế hoạch:
Thiếu ăn là hậu quả của những địa phương, trong đó có sự phát triển dân số nhanh, sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu nên ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em. Vì vậy mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 – 2 con. Để có điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng.
Tác giả : Y sỹ Dương Hồng Tiến